Báo cáo tổng kết Viện năm 2016

ĐẶC ĐIỂM CHUNG, NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN

FVề cơ cấu tổ chức:

Tính đến 31/12/2016 Viện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng (sau đây gọi tắt là Viện) có tổng số là 37 người, trong đó:

         - Cán bộ trong biên chế: 28 biên chế 2A, 04 biên chế 2B;

          - Cán bộ hợp đồng: 05;

         - Số Tiến sĩ: 8;

         - Số thạc sĩ: 11, trong đó có 4 NCS

         - Số kỹ sư/Cử nhân: 16, trong đó có 04 đang học cao học.

 

         - Số trung cấp, kỹ thuật viên, nhân viên: 2.

Bộ máy lãnh đạo của Viện gồm Viện trưởng và 02 Phó viện trưởng. Viện có có 08 đơn vị trực thuộc là Phòng Tổ chức, Hành chính; Phòng Kế hoạch, Tài chính; Phòng thí nghiệm Đất và Môi trường; Bộ môn Môi trường và Biến đổi khí hậu; Bộ môn Sinh lý sinh thái rừng; Bộ môn Đất và Lập địa; Bộ môn Vi sinh; và Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm và Môi trường.

NHIỆM VỤ CÔNG TÁC NĂM 2016:

Năm 2016 Viện đã triển khai thực hiện 02 đề tài cấp bộ, 01 dự án sản xuất thử, 01 dự án giống, 01 dự án bảo vệ phát triển rừng, 01 nhiệm vụ điều tra rừng, 02 dự án hợp tác quốc tế và 11 dịch vụ KHCN và sản xuất kinh doanh.

F Thuận lợi:

Viện luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng ủy và lãnh đạo Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam.

Dưới sự chỉ đạo của Lãnh đạo Viện và sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ viên chức và người lao động năm 2016, Viện đã hoàn thành báo cáo tổng kết 01 đề tài cấp Bộ, tiếp tục triển khai 02 đề tài KHCN, 01 dự án sản xuất thử cấp Bộ, 01 dự án giống, 01 dự án bảo vệ và phát triển rừng, các hợp đồng dịch vụ KHCN, 02 dự án HTQT, 03 nhiệm vụ thường xuyên theo chức năng, đấu thầu thành công 01 đề tài cấp Bộ. Các đề tài, nhiệm vụ do Viện triển khai đều đã bám sát chức năng và nhiệm vụ được giao, tiếp cận với nhu cầu thực tiễn phục vụ đề án tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp.

Viện có văn phòng làm việc và phòng thí nghiệm tại Hà Nội khang trang. Tỷ lệ nghiên cứu viên có trình độ tiến sỹ chiếm khoảng 22%, một số cán bộ có thể sử dụng tương đối thành thạo tiếng Anh trong công tác là những thế mạnh cho Viện trong triển khai các hoạt động KHCN.

Cùng với sự phát triển của Viện thì Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm và Môi trường trong thời gian qua luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo Việnđể cùng phối kết hợp thực hiện các nhiệm vụ được giao, từng bước hoàn thiện các thủ tục để hạch toán độc lập từ 1/1/2017.

Ngoài ra trong quá trình triển khai thực hiện các đề tài, dự án đơn vị còn được sự ủng hộ, tạo điều kiện của các cấp chính quyền, nhân dân địa phương.

F Khó khăn:

Lực lượng cán bộ nghiên cứu ở đa số các bộ môn còn mỏng, đội ngũ NCV có tiềm năng đang được Viện đầu tư cho đi học sau đại học ở trong và ngoài nước, nên đã ảnh hưởng phần nào đến việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan.

Một số nghiên cứu viên còn thiếu ý tưởng nghiên cứu khoa học, kinh nghiệm xây dựng các đề xuất còn nhiều hạn chế. Thiếu cán bộ nghiên cứu đầu đàn, đặc biệt là lĩnh vực sử dụng đất, môi trường và biến đổi khí hậu.

Trang thiết bị nghiên cứu và thí nghiệm còn thiếu và chưa đồng bộ.

Diện tích rừng và đất rừng do Trung tâm thực nghiệm Môi trường nhận khoán QLBV không ổn định về quản lý (Ban QLRPHSĐ có ý định thu hồi một phần diện tích) và nằm ở khu vực lòng hồ sông Đà, đi lại chủ yếu bằng đường thuỷ (xuồng máy) nên gặp không ít khó khăn trong công tác triển khai cũng như công tác quản lý bảo vệ rừng.

Tính cạnh tranh trong khoa học ngày càng cao, do vậy việc tìm kiếm các đề tài, các hợp đồng khoa học công nghệ, các dự án hợp tác quốc tế … ngày càng khó khăn.

 

 Sự thay đổi về cơ chế chính sách trong nghiên cứu khoa học qua các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành tạo cơ chế tự chủ cho các đơn vị NCKH, tuy nhiên chưa đồng bộ và còn nhiều bất cập nên tạo ra những khó khăn thách thức lớn đối với Ban lãnh đạo Viện cũng như toàn thể cán bộ viên chức khi thực hiện.

 

 

 

Tài liệu đính kèm: 
Share